18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản


Estonia sau khi triển khai căn cước công dân (CCCD) điện tử, GDP đã tăng đến 1%. Thử tính 1% GDP của Việt Nam là bao nhiêu: Gần 4 tỷ USD đấy” – ông Nguyễn Trọng Khang, Chủ tịch HĐQT kiêm Nhà sáng lập MK Group – Đơn vị sản xuất thẻ CCCD gắn chip nói với chúng tôi như vậy.

Ông Khang là người đã mất đến 18 năm vật vã, từng… rụng tóc vì stress với chiếc thẻ này.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 1.

Trương Thu Hường: Lý do gì từ năm 2003, anh đã muốn làm thẻ CCCD gắn chip?

Nguyễn Trọng Khang: Vì lúc ấy chúng tôi là đang đại lý cho một công ty ở Mỹ, và kinh doanh máy cá thể hóa thẻ (máy đưa dữ liệu vào thẻ). Chúng tôi thấy cơ hội nên đề xuất với Bộ Công an về việc đưa công nghệ từ nước ngoài về để làm thẻ CCCD gắn chip.

Văn bản đề nghị đầu tiên tôi gửi lên là từ năm 2003, đến giờ đã là 18 năm. Tôi vẫn còn giữ kìa!

Trương Thu Hường: Anh đã tính một thương vụ mang lại doanh thu khá lớn?

Nguyễn Trọng Khang: tất nhiên, tài chính quan trọng chứ. Tuy nhiên nó không phải quan trọng nhất. Quan trọng là được đóng góp. Ở đời có những việc, nói thật là chỉ cần được làm thôi!

Trương Thu Hường: Cụ thể, đóng góp đó là gì, thưa anh?

Nguyễn Trọng Khang: Estonia sau khi triển khai CCCD điện tử đã tăng đến 1% GDP. Thử tính 1% GDP của Việt Nam bằng bao nhiêu: Gần 4 tỷ USD đấy. Đóng góp này lớn chứ, đúng không?

Đấy là lợi ích từ những ứng dụng thiết thực cho người dân, Chính phủ và công ty.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 2.

Chẳng hạn, chỉ cần duy nhất thẻ CCCD gắn chip là người dân có thể giao dịch được với cơ quan nhà nước, hoặc các tổ chức có kết hợp công dụng xác thực thẻ CCCD…. Họ không phải mất nhiều thời gian xếp hàng chờ đợi. Thậm chí có thể ngồi nhà thực hiện mọi giao dịch như: mở tài khoản ngân hàng, đăng ký mở công ty, hay thậm chí bán nhà mà chẳng cần phải đi đâu cả.

khá nhiều loại chi phí sẽ giảm. Đặc biệt là phí in giấy tờ công chứng vì cái này khá lớn, có thể lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng. Giảm chi phí thủ tục giấy tờ, đi lại tốn kém… Những thứ này nếu khắc phục được sẽ khiến hiệu quả hoạt động của nền kinh tế tăng, từ đó thu hút đầu tư.

Đối với Chính phủ, CCCD điện tử còn giúp lãnh đạo lấy dân làm trung tâm. Ví dụ, thay vì 5 năm mới mở đợt thống kê thì giờ chính quyền lúc nào cũng có thể biết rõ tổng dân số. Họ còn biết cả việc người dân đang cư trú ở vị trí nào. Tất cả thông báo cư trú đều được cập nhật trên CSDL tập trung. Lúc đó, việc hoạch định chính sách sẽ tốt hơn khá nhiều.

Rồi những lợi ích như: kết hợp thêm cả mã số thuế và số sổ BHX; thay hộ chiếu đi lại ở các nước có thỏa thuận; thẻ ra vào cơ quan…

Trương Thu Hường: Nhiều lợi ích như thế, theo anh Lý do gì đến hiện nay Việt Nam mới làm?

Nguyễn Trọng Khang: hiện nay mới đúng lúc.

Lùi lại cách đây 10 năm thôi, kinh tế nước ta chưa đủ lực! Nói thật, Bộ Công an muốn làm CCCD điện tử cũng đã khá nhiều năm. Tuy nhiên lại chưa có đủ những nguồn lực căn bản, gồm cả vấn đề tài chính.

Thứ hai, lúc này Việt Nam đang có nhu cầu rốt ráo về việc quản lý xã hội cần có sự tập trung.

Lãnh đạo Bộ Công an từng hứa với Quốc hội đến 1/7/2021 sẽ khai tử sổ hộ khẩu bằng giấy. Cái sổ đó đã không còn theo kịp nhu cầu cải cách hành chính. Tuy nhiên nếu bỏ đi thì phải quản lý bằng cái gì chứ? Thế thì chính cái đó cũng là đòn bẩy cho dự án Cơ sở dữ liệu về dân cư và CCCD gắn chip. Khi người lãnh đạo dám đưa ra quyết sách và cam kết chính trị mạnh như thế, sẽ thúc đẩy cả một lực lượng, hệ thống phải vào cuộc.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 3.

Thứ ba, muốn làm CCCD điện tử phải có hệ thống CSDL, kiểm tra sinh trắc học tập trung.

Quan trọng nhất là sự đổi thay về nhận thức. Còn nếu nước mình cứ làm theo cách cũ thì chắc còn lâu lắm mới nhận được CCCD điện tử.

Trương Thu Hường: “Cách cũ” mà anh nói, đó là gì?

Nguyễn Trọng Khang: Nhiều năm trước, nước ta từng có dự án chuyển từ CMND sang CCCD mã vạch. Hồi đấy, chúng tôi đã khuyến nghị nên đưa chip vào. Tuy nhiên lúc đó công nghệ CCCD gắn chip chưa được chuẩn hóa như hiện nay. Họ chưa thấy sự cần thiết về an ninh, bảo mật, dịch vụ trực tuyến. Nhìn ra thế giới, các nước cũng chưa xài CCCD gắn chip nhiều.

Trong mã vạch của CCCD cũ có mã hóa ảnh, dấu vân tay. Tuy nhiên chỉ có lực lượng công dụng mới đọc được thôi. Như vậy, nó đã giúp ích được cho việc quản lý. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập, chưa thể dùng để định danh người dân được.

Trương Thu Hường: Dự án CCCD mã vạch không được triển khai đồng bộ. Sau một thời gian thì nay phải dừng để triển khai cấp CCCD mẫu mới. Là người đã đề xuất hướng gắn chip ngay từ đầu, anh có thất vọng không?

Nguyễn Trọng Khang: Thật ra tôi xác định đây là một hành trình kiên trì.

Từ 2003, tôi tận dụng những cơ hội đối thoại giữa Chính phủ và công ty để bày tỏ quan điểm với các lãnh đạo. Tôi nói: Chúng ta thường nói đến Chính phủ điện tử, Tuy nhiên vế quan trọng hơn phải là công dân điện tử. Nếu công dân không thể định danh bằng điện tử thì Làm cách nào họ tiếp cận được những dịch vụ mà Chính phủ điện tử cung cấp? Để phục vụ người dân thì phải có CCCD điện tử. Cứ lần lượt như thế, tìm cơ hội để được trao đổi và thuyết trình…

May là đến lúc Chính phủ nhận thấy cần và có đủ lực để đổi thay, có cả sự quyết liệt đổi thay của Bộ công an nên chúng tôi cũng như nhiều công ty công nghệ Việt Nam khác mới có cơ hội được góp sức vào dự án quan trọng này.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 4.

Trương Thu Hường: Những dự án đầu tư công dang dở vì thiếu vốn dĩ là chuyện không mới ở Việt Nam.

Nguyễn Trọng Khang: Và cũng không phải chỉ có Việt Nam mới như vậy! Philippines vừa qua mới triển khai CCCD, Tuy nhiên họ vẫn dùng mã vạch chứ không phải gắn chip. Thái Lan, Indonesia cũng làm chip từ khá lâu, Tuy nhiên lại không theo tiêu chuẩn quốc tế.

Dẫu sao chuyện đổi sang CCCD gắn chip theo tiêu chuẩn quốc tế như Việt Nam cũng sẽ có khá nhiều khá khó khăn! khá khó khăn ngay trong chính nội bộ của các đơn vị triển khai. Ví dụ, việc đưa lực lượng Công an về từng xã, từng bản làm CCCD cho dân thì ai ở, ai đi? Rồi hệ thống quản lý dân cư cũ của tỉnh phải bỏ đi để xây dựng một hệ thống mới tập trung, ứng dụng toàn những công nghệ hiện đại của thế giới thì đó chính là một đợt cải cách cần có sự đột phá.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 5.

Trương Thu Hường: Đột phá? Xin anh nói rõ hơn về vấn đề này.

Nguyễn Trọng Khang: Ban đầu, có một cơ quan cấp trung ương đã nêu ý kiến nên làm thẻ CCCD có tính chất bản địa. Tuy nhiên chính Bộ Công an đã đứng ra thuyết phục. Cuối cùng, các lãnh đạo cũng đồng ý với chúng tôi rằng, chiếc thẻ đạt yêu cầu thế giới có ý nghĩa chiến lược trong việc hội nhập quốc tế lâu dài về sau.

Có 3 việc mà chúng tôi đề xuất với Bộ Công an và tiếp sau đó được thông qua. Thứ nhất là làm thẻ tuân theo tiêu chuẩn của ICAO (Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế). Thứ hai, pass-word để mở thẻ là bằng sinh trắc học, xài công nghệ “match on card” (thuật toán so sánh nằm trên thẻ). Khi đưa hình ảnh, dấu vân tay vào máy đọc thẻ thì con chip sẽ tự động so sánh với dữ liệu lưu trên đó, không cần kết nối với CSDL tập trung nên có thể thao tác offline, tính bảo mật cao hơn. Thứ ba là chữ ký số – cái khá quan trọng trong việc ký giao dịch điện tử về sau.

Khi Bộ Công an lắng nghe, suy xét và chấp nhận các đề xuất, cũng như đứng ra đấu tranh, thuyết phục được các Ban, Ngành khác thì với chúng tôi, đó là sự đột phá.

Trương Thu Hường: Sự hoài nghi về dự án này đã từng lớn đến như vậy?

Nguyễn Trọng Khang: Chính xác! Không chỉ có ý kiến của đơn vị kể trên. Mà ngay khi Bộ Công an trình lên thì khá nhiều Bộ, Ban, Ngành; thành viên của Quốc hội thậm chí còn không tin. Họ không tin trong thời gian ngắn, Việt Nam có thể làm được thẻ CCCD hiện đại, giá rẻ như thế và phát hành nhanh như thế. Nhất là trong bối cảnh dịch bệnh.

Tuy nhiên chính sự hoài nghi đã tạo ra động lực. nếu các bạn đến thăm nhà máy của chúng tôi vào đợt sản xuất CCCD thì sẽ thấy, hàng trăm công nhân đều được đặt trong tinh thần thi đua sôi sục. các bạn tăng ca 4 tiếng/ ngày mà không ai kêu mệt. Mặc dù máy cá thể hóa thẻ tối đa chỉ làm được 1.000 thẻ/ giờ/máy, Tuy nhiên có công nhân trong 12 tiếng đã cho ra 11.400 cái. Có nghĩa, họ đã làm việc đến quên ăn, quên ngủ.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 6.

Bản thân tôi từng stress đến nỗi rụng tóc. Tuy nhiên tôi biết, lãnh đạo ở trên còn áp lực hơn nhiều. Lời hứa với Quốc hội, hứa với Chính phủ là một cam kết khá lớn. Trong tình hình như thế, ngành Công an phải vào cuộc quyết liệt. Dù dịch bệnh, Bộ vẫn điều động được 100.000 cán bộ đi xuống từng địa phương. Họ đã không quản vất vả mà đi đến từng thôn, bản, mang bánh trái, nước rửa tay,… làm việc đến đêm khuya để cấp CCCD mới cho người dân…

Rồi khi xảy ra nạn khan hiếm chip toàn cầu, để đàm phán mua được chip từ Đức thì đến ngay cả các cơ quan Chính phủ cũng phải vào cuộc.

Chúng tôi tin, nếu dự án không được đặt trong bối cảnh khá khó khăn, hoặc không có sự hoài nghi lớn như thế thì đã rất thể thành công. Không thể mang tính lịch sử đến như vậy.

Trương Thu Hường: Khi làm việc với Chính phủ, điều gì khiến anh khiến áp lực nhất?

Nguyễn Trọng Khang: Chính phủ là cả một tổ chức chính trị nên mọi việc phải thông qua họp bàn với cực kì nhiều Ban, Ngành. Tuy nhiên nói chung dù làm việc với ai, Chính phủ hay công ty, thì vẫn cần có những người quyết đoán, dám làm.

Áp lực là tất nhiên. Tuy nhiên chúng tôi, cũng như các công ty công nghệ Việt trong dự án này luôn thấy tự hào khi được Chính phủ, Bộ Công an và người dân đặt niềm tin.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 7.

Trương Thu Hường: Dù sao đây vẫn chính là dự án lớn, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh.

Nguyễn Trọng Khang: Rõ ràng rồi! CCCD giúp chúng tôi có nhiều việc để làm. Ví dụ thị trường Nhật Bản có những năm, chúng tôi xuất khẩu được 9 triệu đô, Tuy nhiên năm nay chỉ đạt khoảng 2 triệu đô. Rồi ngân hàng thì 2 tháng nay vì dịch, chúng tôi đâu có tiếp cận được ở Tp.HCM.

Tôi nghĩ đấy cũng là may mắn. Trước kia, khi thẻ sim bão hòa thì chúng tôi có thẻ thanh toán. hiện nay thẻ thanh toán gặp khó, chúng tôi lại có CCCD.

quá trình sản xuất thẻ, chúng tôi cũng hoàn thiện được nhiều thứ. Và khi có cơ hội được làm việc khó thì công ty của mình lớn lên khá là nhiều.

tất nhiên, dịch bệnh như vậy, công ty nào chẳng gặp khó. Tuy nhiên MK vẫn ổn. Có những người bạn của tôi làm du lịch thì hiện nay mới hơn cả lao đao. Yếu tố thời điểm quan trọng lắm. Chỉ là chẳng ai biết thời điểm chính xác là lúc nào.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 8.

Có những năm, chỉ riêng đơn hàng cho một công ty viễn thông ở Việt Nam mà chúng tôi đã làm đến 50 triệu thẻ sim. Cùng một năm ấy, đối tác ở Nhật Bản đặt gần 60 triệu thẻ tín dụng.

Tôi muốn nói là chúng tôi không đổi đời nhờ làm thẻ CCCD.

Trương Thu Hường: Tuy nhiên lợi nhuận cũng quan trọng lắm chứ. Nếu không, các anh cũng đâu cần tiết kiệm chi phí đến mức để công nhân làm việc hết tốc độ?

Nguyễn Trọng Khang: Vậy phải đặt câu hỏi ngược lại: nếu không sản xuất nhanh, Việt Nam có thể làm được CCCD giá rẻ chỉ bằng nửa Nhật Bản? Dù biết rằng chi phí nước họ đắt đỏ hơn, và giá CCCD của nước mình khi đến tay người dân vẫn đang được Chính phủ trợ giá.

Dự án này bản thân nó đã có thời gian khá gấp rút. Và công nhân của chúng tôi cũng khá muốn đóng góp.

Tuy nhiên bạn nói đúng. Nguồn ngân sách của nước mình khá hạn chế. quá trình sản xuất lại phát sinh những chuyện như nguyên liệu tăng giá, rồi phải cho chất liệu đi máy bay về, đội chi phí vận chuyển lên khá cao… Vậy thì phải làm nhanh để tiết kiệm. Khi đạt được quy mô lớn trong thời gian khá ngắn thì mới giảm được chi phí cố định (điện, nước, nhân công, hao mòn máy móc… nói chung là “economy of scale” – tính kinh tế theo quy mô)

Trương Thu Hường: Nếu thế Lý do gì vẫn còn có nghi ngờ Việt Nam khó làm được thẻ CCCD giá rẻ?

Nguyễn Trọng Khang: một số năm trước, chi phí chip còn đắt. hiện nay rẻ hơn nhiều. Quan trọng là đến giờ, người Việt Nam mới làm chủ được công nghệ.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 9.

Trương Thu Hường: Có nghĩa là giả dụ, nếu Chính phủ đồng ý để các anh làm CCCD gắn chip từ năm 2003 thì đó không phải là công nghệ của Việt Nam?

Nguyễn Trọng Khang: Chính thế. Lúc đó, chúng tôi chỉ đóng vai trò đưa công nghệ từ nước ngoài về. Nhà máy sản xuất thẻ của chúng tôi vừa xây xong. Còn hiện nay, chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm, làm chủ được công nghệ. Chỉ cần mua phần cứng từ nước ngoài thôi. Phần mềm và sản xuất chúng tôi chủ động làm.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 10.

Trương Thu Hường: Phải Làm cách nào để làm chủ công nghệ này, thưa anh?

Nguyễn Trọng Khang: Đó là hành trình dài tiếp cận, đưa công nghệ hiện đại về Việt Nam. Cuối cùng, người Việt phải làm chủ được nó.

Người giúp tôi nhiều nhất về công nghệ là ông Graham MCKay, người bạn Nam Phi gốc Anh khá giỏi về thẻ sim và thẻ thanh toán. Ông từng bán công ty được 100 triệu đô la, những lại sẵn sàng về MK để giúp chúng tôi.

3-4 năm trước, chúng tôi lại chiêu mộ được Matthias Duensser, chuyên gia người Đức khá giỏi về CCCD điện tử. Anh đã từng cùng các cộng sự sáng lập nên một công ty thực hiện được 30% CCCD gắn chip và hộ chiếu điện tử trên toàn cầu.

Quan trọng là gần 20 năm qua, tôi luôn giữ được đội ngũ cốt lõi bên mình. Những người Việt này tiếp cận tất cả cái mới mà Graham, hay Matthias và nhiều người như thế đem về, cũng như công nghệ do đối tác sản xuất chip ở nước ngoài chuyển giao. Kết quả, những công nghệ đó trở thành sở hữu của người Việt.

Trương Thu Hường: Cách anh thuyết phục được người giỏi như thế nào?

Nguyễn Trọng Khang: trước khi tôi mời họ về làm chung, chúng tôi đã là bạn bè thân thiết. Để chiêu mộ Matthias, tôi nhờ đích thân ông Graham bay từ Nam phi sang Mỹ cùng phỏng vấn. Tuy nhiên suốt mấy ngày ở Mỹ, chúng tôi chỉ cặm cụi làm vườn. Sáng trồng cây, chiều chúng tôi làm hàng rào (cười).

đến ngày Cuối cùng, ông Graham giật mình: “Này Khang! Tôi bay nửa vòng Trái Đất sang đây để phỏng vấn giúp anh, Tuy nhiên anh chỉ rủ chúng tôi đi làm vườn? Hôm nay, Matthias đã về rồi, anh muốn phỏng vấn gì?”.

Tôi cười bảo: “Ông không thấy từ sáng đến tối, Matthias đã cùng với anh em mình làm vườn khá chăm chỉ đấy ư?”.

Nói thật với bạn, những người giỏi như vậy mình đâu cần phỏng vấn. Cái họ cần cũng đâu phải tiền bạc. Họ giúp vì quý mến. Nhiều khi giản đơn chỉ là thích làm vườn với nhau như vậy thôi.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 11.

Trương Thu Hường: không phải chuyện tiền bạc. Đó có phải là nguyên tắc của anh khi xây dựng mối quan hệ?

Nguyễn Trọng Khang: Đúng vậy. Đã chơi với người ta thì phải để họ nể mình.

Hồi mới du học về nước, tôi làm nhà phân phối thẻ cho một công ty thẻ của Pháp, có chi nhánh tại Singapore. công ty này tiếp sau đó sáp nhập với một một công ty khác. Cái công ty khác ấy lại có một công ty A là nhà phân phối ở việt Nam. Đối tác của tôi thấy công ty A to, còn MK thì nhỏ. Lúc ấy, tôi đã bán thẻ cho ngân hàng B quãng 5 năm rồi. Đối tác biết vậy, Tuy nhiên vì lợi ích, họ cũng bỏ mình.

Ông GĐ ở Singapore gọi cho tôi, nói: “Khang! Tôi đền anh 20.000 USD. Anh bỏ ngân hàng kia cho bên A làm, anh đi tìm ngân hàng khác?”.

Tôi nói luôn: “Tôi không rẻ thế đâu! Ông cất tiền của ông đi”.

Một tuần sau, tôi sang Mỹ gọi vốn được 1 triệu đô. Về Việt Nam, tôi quyết tâm xây luôn cái nhà máy sản xuất thẻ ở KCN Quang Minh (Vĩnh Phúc) vào năm 2003.

Trương Thu Hường: Anh có thường bị người ta “quay xe”?

Nguyễn Trọng Khang: Nhiều chứ. Một công ty chuyên về coin (tiền ảo) được tôi góp vốn hơn 40% cổ phần. đến lúc ICO (bán token) được 11 triệu đô thì founder (người sáng lập) đã chẳng chia cho tôi đồng nào (cười).

Trương Thu Hường: Thế nguyên tắc của anh hiệu quả ở vị trí nào?

Nguyễn Trọng Khang: (Cười) Họ bỏ mình. Đổi lại mình có động lực để vượt lên. Còn họ sẽ phải nể giá trị con người mình.

Đối với người thật lòng tốt với mình thì nguyên tắc đó càng quan trọng.

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 12.

Ngày xưa lúc loay hoay với những năm đầu khởi nghiệp, tôi từng sống trong ngôi nhà vỏn vẹn 28m2. Anh Nguyễn Thành Nam đã chủ động tìm đến, đề nghị tôi đổi cổ phần MK lấy cổ phần FPT của anh. FPT lên sàn hồi năm 2006. Hai anh em đổi cho nhau mà chẳng có đàm phán.

Khi ấy vị trí cổ phiếu của tôi có thể bán được đến 1 triệu đô la.

Khổ nỗi anh Nam bận quá, trước khi IPO (chào bán chứng khoán công khai) đã quên không chuyển nhượng. Kết quả, đúng lúc cổ phiếu lên cao, thành viên trong HĐQT như anh không được phép bán ra.

Khi cổ phiếu của anh Nam hết “đóng băng” thì giá cả cũng đi xuống. Vì cần tiền, tôi vẫn phải bán đi đổi lấy 400.000 USD.

Anh Nam biết chuyện, đến tận nhà tôi, nói: “Khang, anh xin lỗi. Anh quên mất. Giờ em tính giá cổ phiếu ở thời điểm cao nhất đi! Thiếu bao nhiêu, anh bù”.

Tôi nói: “Không! Anh không cần làm thế. Anh em mình đổi cho nhau, giá cả lên xuống là chuyện khá bình thường”.

600.000 USD với tôi lúc đó lớn khủng khiếp! Tuy nhiên tôi không lấy tiền của anh Nam dù tôi biết, anh thừa sức để trả. Tôi nghĩ, giá trị con người mình nằm ở chính vị trí đó. Nếu chơi với người ta mà chỉ nghĩ cái lợi cho mình thì Làm cách nào duy trì được lâu dài?

18 năm vật vã của Chủ tịch MK Group và chiếc thẻ CCCD Việt Nam giá rẻ bằng 1/2 Nhật Bản - Ảnh 13.

Trương Thu Hường

Việt Hùng, NVCC

Theo công ty và Tiếp thị


— Bài viết lấy từ Cafef —

Tổng Quan Thị Trường

Tin Mới